Trạm xử lý nước thải tập trung của một cụm công nghiệp thường phải xây xong trước khi phần lớn nhà máy đi vào hoạt động, rồi theo kịp lượng nước thải tăng dần qua từng đợt thu hút đầu tư. Công ty TNHH Quốc tế NGO (NGO International), doanh nghiệp xử lý nước và nước thải công nghiệp có trụ sở tại Hà Nội, đã triển khai trạm tập trung cho Cụm công nghiệp Yên Bằng tại Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) từ năm 2024. Bài viết tổng hợp cách NGO tiếp cận nước thải KCN, CCN qua các công trình ở Nam Định, Thanh Hóa và mô hình lắp theo module.
Tổng quan về xử lý nước thải khu công nghiệp, cụm công nghiệp và đô thị
Nước thải về trạm tập trung là hỗn hợp từ nhiều doanh nghiệp thứ cấp, mỗi đơn vị đã xử lý sơ bộ theo giới hạn đấu nối của khu. Thành phần phụ thuộc ngành nghề được thu hút: cụm cơ khí, lắp ráp cho nước thải tương đối ổn định, còn cụm có dệt nhuộm, chế biến thực phẩm hay giấy mang về COD, độ màu và tải lượng cao hơn, dao động theo ca. Nước thải đô thị chủ yếu là nước thải sinh hoạt, loãng hơn nhưng lưu lượng biến động mạnh theo giờ và theo mùa mưa.
Khó khăn lớn nhất thường nằm ở giai đoạn vận hành. Khi tỷ lệ lấp đầy còn thấp, lưu lượng thực tế chỉ bằng một phần nhỏ công suất thiết kế và hệ vi sinh khó duy trì. Khi đã đông doanh nghiệp, một dòng thải xả sai quy định cũng đủ gây sốc tải cho cả trạm. Trong khi đó, quỹ đất dành cho hạ tầng xử lý hay bị thu hẹp để nhường chỗ cho diện tích cho thuê.
Chọn công nghệ cho trạm tập trung vì vậy là việc cân bằng nhiều yếu tố: công suất theo từng giai đoạn đầu tư, đặc tính nước thải của các ngành đấu nối, quy chuẩn xả thải (QCVN 40:2025/BTNMT với nước thải công nghiệp), diện tích sẵn có, yêu cầu quan trắc tự động và khả năng tái sử dụng nước. Trong đó, tiến độ lấp đầy là biến số khó dự báo nhất, cũng là lý do nhiều trạm được chia thành các đơn nguyên xây dần.
Năng lực của NGO International trong xử lý nước thải KCN/CCN
Thành lập năm 2016, NGO International có trụ sở tại Hà Nội và văn phòng tại TP. Hồ Chí Minh. Với trạm tập trung, đơn vị nhận các phần việc xử lý nước thải từ khảo sát, thiết kế, cung cấp thiết bị, thi công, chạy thử đến bàn giao kèm hồ sơ chất lượng. Sau bàn giao, dịch vụ tư vấn vận hành đào tạo nhân sự, xây dựng quy trình vận hành chuẩn và hướng dẫn xử lý sự cố; khi vấn đề nằm ở công trình, đơn vị cải tạo ngay trên hệ thống hiện hữu. Với chủ đầu tư hạ tầng, NGO nhận cả lập báo cáo ĐTM, hồ sơ giấy phép môi trường và quản lý vận hành trạm sau bàn giao.
Các công trình đã triển khai cho thấy hai hướng thường dùng với cụm công nghiệp. Ở nơi còn quỹ đất, cụm bể xử lý gọn được kết hợp với hồ sinh học để giảm chi phí xây lắp. Ở nơi đất hạn chế hoặc lấp đầy dần, bể màng MBR đặt trong module được lắp thêm khi lượng nước thải tăng. Với một trạm cụm công nghiệp công suất 1.000 m³/ngày đêm, NGO International đã điều chỉnh lại mô hình xử lý và giảm hơn 30% diện tích xây lắp. Chi tiết các phương án có ở trang xử lý nước thải khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Các dự án tiêu biểu của NGO International
Ba công trình dưới đây, cùng các video khác trên trang dự án tiêu biểu, là ba cách tiếp cận khác nhau cho nước thải tập trung. Video ở đầu bài ghi lại trạm CCN Yên Bằng từ khởi công đến hoàn thiện và phần lắp màng của trạm 10.000 m³. Một số thông số thiết kế được lược bớt để bảo mật thông tin khách hàng.
Trạm xử lý nước thải tập trung CCN Yên Bằng, Nam Định (nay thuộc Ninh Bình)
| Địa điểm | CCN Yên Bằng, Nam Định (nay thuộc Ninh Bình) |
|---|---|
| Phạm vi của NGO | Từ khởi công, thi công, lắp đặt đến hoàn thiện |
| Công nghệ | Cụm bể xử lý kết hợp hồ sinh học sục khí |
| Thời gian | Triển khai từ năm 2024 |
- Bài toán đặt ra
CCN Yên Bằng cần một trạm xử lý nước thải tập trung xây mới hoàn toàn, bắt đầu từ phần móng cọc, để tiếp nhận nước thải của các doanh nghiệp trong cụm.
- Giải pháp NGO triển khai
Mặt bằng gồm cụm bể xử lý bê tông cốt thép có lan can, nhà điều hành và hai hồ sinh học lót bạt, sục khí bằng máy sục bề mặt. Chức năng từng công trình được tính theo đặc tính nước thải của cụm.
- Vai trò của NGO
NGO International có mặt từ lễ khởi công năm 2024, qua giai đoạn thi công và lắp đặt thiết bị đến khi công trình hoàn thiện.
- Kết quả / giá trị mang lại
Trạm hoàn thiện gồm cụm bể, nhà điều hành và hai hồ sinh học sục khí trên cùng mặt bằng. Một nhà thầu theo công trình từ khởi công đến hoàn thiện giúp phần xây dựng và phần thiết bị khớp nhau ngay từ đầu.
Trạm xử lý nước thải tập trung 800 m³/ngày đêm tại Thanh Hóa
| Địa điểm | Thanh Hóa |
|---|---|
| Công suất | 800 m³/ngày đêm |
| Mô hình | Hồ sinh học có xử lý ô nhiễm |
- Bài toán đặt ra
Giữ chi phí xây lắp phù hợp với quy mô 800 m³/ngày đêm mà không để các bể xử lý chính quá tải.
- Giải pháp NGO triển khai
Hồ sinh học được đưa vào dây chuyền như một bậc xử lý ô nhiễm, không chỉ là nơi chứa nước.
- Vai trò của NGO
Áp dụng mô hình hồ sinh học có xử lý ô nhiễm cho trạm.
- Kết quả / giá trị mang lại
Phần hồ giảm tải cho các công trình phía sau, nhờ đó trạm giảm được chi phí xây lắp.
Trạm xử lý nước thải 10.000 m³ lắp màng MBR theo module
| Quy mô | 10.000 m³ |
|---|---|
| Công nghệ | Màng MBR tấm phẳng đặt trong module |
| Hình thức | Lắp theo module, bổ sung dần |
| Tái sử dụng | Nước sau xử lý dùng cho cảnh quan |
- Bài toán đặt ra
Lượng nước thải tăng dần theo tiến độ lấp đầy, nên đầu tư một lần toàn bộ công suất dễ khiến trạm chạy non tải nhiều năm và đọng vốn.
- Giải pháp NGO triển khai
Các module chứa màng MBR tấm phẳng được lắp trước cho nhu cầu hiện tại, bổ sung dần khi lượng nước thải tăng. Màng thay cho bể lắng thứ cấp nên phần diện tích của cụm sinh học rất gọn.
- Vai trò của NGO
NGO International lắp các cụm màng MBR tấm phẳng vào module; thông số nước đầu ra được theo dõi trên màn hình tại trạm.
- Kết quả / giá trị mang lại
Nước sau xử lý được tái sử dụng cho cảnh quan. Chi phí đầu tư đi cùng nhu cầu thực tế thay vì dồn vào giai đoạn đầu.
Công nghệ xử lý nước thải thường áp dụng cho KCN/CCN
Phần ít được chú ý nhưng quyết định độ ổn định của cả dây chuyền là xử lý sơ bộ và điều hòa: song chắn rác, tách cát và một bể điều hòa đủ thể tích để làm phẳng lưu lượng, nồng độ trong ngày. Không ít trạm tập trung chạy thiếu ổn định vì bể điều hòa quá nhỏ chứ không phải vì thiếu công nghệ.
Khi cụm có ngành phát sinh màu, kim loại hoặc nhiều chất rắn lơ lửng, cụm keo tụ – tạo bông hay tuyển nổi DAF nên đặt trước bậc sinh học để giảm tải và bảo vệ hệ vi sinh.
Ở bậc sinh học, bùn hoạt tính theo sơ đồ AO, AAO hoặc MBBR có chi phí đầu tư thấp hơn nhưng cần bể lắng và nhiều diện tích. MBR giữ bùn bằng màng lọc nên bỏ được bể lắng thứ cấp, nước ra trong và ổn định, hợp với nơi đất hạn chế hoặc cần tái sử dụng nước; bù lại là chi phí đầu tư, điện năng và yêu cầu vệ sinh màng cao hơn. Hồ sinh học là lựa chọn kinh tế ở nơi còn đất, với điều kiện tính kỹ thời gian lưu và kiểm soát mùi. So sánh chi tiết có trong bài công nghệ xử lý nước thải bằng màng MBR.
Phần cuối gồm khử trùng, quan trắc tự động liên tục và xử lý bùn. Ngày càng nhiều chủ đầu tư tính phương án dùng lại nước sau xử lý cho tưới cây, rửa đường ngay từ khâu thiết kế.
Xử lý nước thải KCN/CCN tại Nam Định (Ninh Bình)
Sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Nam Định, Hà Nam và Ninh Bình cũ hợp thành tỉnh Ninh Bình. Nhiều hồ sơ quy hoạch, giấy phép môi trường và tài liệu kỹ thuật vẫn dùng tên cũ, nên khi lập hồ sơ hay tìm nhà thầu cần đối chiếu cả hai cách gọi.
Trên địa bàn Nam Định cũ, NGO International đã triển khai trạm xử lý nước thải tập trung cho CCN Yên Bằng (dự án nêu trên). Cũng trong tỉnh Ninh Bình hiện nay, đơn vị tham gia điều chỉnh vận hành hệ thống xử lý nước thải của một cụm công nghiệp dệt nhuộm: thay đổi quy trình vận hành trên hệ thống hiện hữu để ổn định chất lượng nước và giảm hóa chất khử màu tiêu hao. Chi tiết có trong bài xử lý nước thải dệt nhuộm.
Nhiều cụm công nghiệp ở Nam Định cũ gắn với dệt may, cơ khí và làng nghề. Với cụm có dệt nhuộm, độ màu và COD khó xử lý bằng sinh học đơn thuần nên sơ đồ thường cần bước hóa lý hoặc oxy hóa, với cấu hình tùy kết quả lấy mẫu từng dòng thải. Chủ đầu tư hạ tầng nên chốt sớm bốn việc: giới hạn chất lượng nước đấu nối cho từng doanh nghiệp, phương án mở rộng theo giai đoạn, yêu cầu quan trắc tự động và nơi tiếp nhận bùn thải.
Ngoài Nam Định và Thanh Hóa, NGO International nhận khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành trạm xử lý nước thải tập trung cho KCN, CCN ở các địa phương dưới đây, cùng nước thải riêng của từng ngành đấu nối như dệt nhuộm, thực phẩm – đồ uống, dược phẩm hay mạ, linh kiện điện tử. Bắc Giang và Quảng Ninh có nhiều khu công nghiệp mới mở rộng; Long An, Tây Ninh và Bà Rịa – Vũng Tàu là các vùng công nghiệp lớn quanh TP. Hồ Chí Minh.
Địa bàn triển khai xử lý nước thải KCN, CCN
Miền Bắc: Nam Định (nay thuộc Ninh Bình), Bắc Giang (nay thuộc Bắc Ninh), Quảng Ninh
Miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An
Miền Nam: Long An (nay thuộc Tây Ninh), Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh)
Vì sao cần lựa chọn đơn vị có kinh nghiệm thực tế?
Sai sót thiết kế ở trạm tập trung không dừng lại ở một doanh nghiệp: nó ảnh hưởng đến mọi đơn vị đang đấu nối và đến giấy phép của cả cụm. Câu hỏi đáng đặt ra với nhà thầu là họ đã làm trạm tập trung nào, số liệu thiết kế lấy từ mẫu đo bao nhiêu ca, và sơ đồ được chia giai đoạn ra sao để trạm không chạy non tải hay quá tải.
Tiếp theo là năng lực thiết kế và cung cấp thiết bị đồng bộ, sự phù hợp của công nghệ với đội vận hành sẽ tiếp nhận, và cách nhà thầu xử lý khi một dòng thải bất thường đi vào trạm. Phần lớn sự cố xuất hiện sau bàn giao, khi tải thực tế lệch khỏi số liệu thiết kế; đơn vị có kinh nghiệm thường theo dõi giai đoạn vận hành đầu để hiệu chỉnh.
Câu hỏi thường gặp
NGO International đã triển khai trạm xử lý nước thải tập trung cho CCN Yên Bằng tại Nam Định, nay thuộc tỉnh Ninh Bình, từ khởi công năm 2024 qua thi công, lắp đặt đến hoàn thiện. Đơn vị cũng điều chỉnh vận hành hệ thống xử lý nước thải của một cụm công nghiệp dệt nhuộm trong tỉnh.
Có. Các công trình tiêu biểu gồm trạm tập trung CCN Yên Bằng ở Nam Định (Ninh Bình), trạm 800 m³/ngày đêm tại Thanh Hóa và trạm 10.000 m³ lắp màng MBR theo module. Phạm vi có thể từ thiết kế, thi công đến tư vấn vận hành.
Từ tổng lưu lượng đăng ký xả thải của doanh nghiệp thứ cấp, hệ số dự phòng và tiến độ lấp đầy. Vì lưu lượng tăng dần, công suất nên chia theo giai đoạn thay vì xây một lần.
Hồ sinh học hợp với nơi còn quỹ đất và muốn giảm chi phí xây lắp. MBR hợp khi đất hạn chế, cần nước ra ổn định để tái sử dụng hoặc muốn mở rộng theo module; chi phí điện và bảo trì màng cao hơn.
Từ ngày 1/9/2025, nước thải công nghiệp xả ra nguồn tiếp nhận áp dụng QCVN 40:2025/BTNMT, theo cột A, B hoặc C tùy nguồn tiếp nhận. Trạm đã được phê duyệt ĐTM hoặc cấp giấy phép môi trường trước ngày này được áp dụng quy chuẩn cũ đến hết năm 2031. Trạm của khu sản xuất tập trung còn phải lắp quan trắc nước thải tự động, liên tục.
Tùy công nghệ và công suất. Hồ sinh học cần nhiều đất nhất, MBR gọn nhất vì bỏ được bể lắng thứ cấp. Với một trạm cụm công nghiệp 1.000 m³/ngày đêm, việc NGO International điều chỉnh lại mô hình xử lý đã giảm hơn 30% diện tích xây lắp.
Ở miền Bắc tại Nam Định (nay thuộc Ninh Bình), Bắc Giang (nay thuộc Bắc Ninh) và Quảng Ninh; ở miền Trung tại Thanh Hóa, Nghệ An; ở miền Nam tại Tây Ninh (gồm cả Long An cũ) và Bà Rịa – Vũng Tàu (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Hai công trình giới thiệu ở trên nằm tại Nam Định và Thanh Hóa.
Nam Định cũ nay thuộc tỉnh Ninh Bình, cùng với Hà Nam và Ninh Bình cũ, theo đợt sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.
Kết luận
Nước thải của KCN, CCN thay đổi theo thời gian: lưu lượng tăng dần, ngành nghề đấu nối đổi theo từng đợt thu hút đầu tư, còn quỹ đất ngày càng hẹp. Phương án phù hợp phải gọn, chia được giai đoạn và vận hành ổn định với đội ngũ sẵn có.
Từ trạm tập trung CCN Yên Bằng ở Nam Định (Ninh Bình), trạm 800 m³/ngày đêm ở Thanh Hóa đến trạm MBR 10.000 m³ lắp theo module, NGO International đã làm việc với nhiều mô hình khác nhau cho nước thải tập trung. Với chủ đầu tư hạ tầng đang chuẩn bị xây mới hoặc cải tạo trạm, bước đầu tiên nên là một buổi khảo sát hiện trạng cùng đội kỹ thuật của NGO.
Liên hệ NGO International






